Hồng trần cuộn bụi, bóng xế tà huy. Trước rặng núi xa trong buổi hoàng hôn, từng đàn quạ bay liệng tìm về tổ cũ. Khương Nghị cùng bảy tám tên tạp dịch chăn ngựa đã bỏ lại kinh thành phía sau lưng. Đoàn người rong ruổi trên quan lộ, bóng dáng mỗi lúc một xa dần. Trời sắp tối, gió đồng nội thổi tới càng lúc càng mạnh, rít gào bên tai.
Khương Nghị thúc ngựa trên đường nhưng tâm trí dần trở nên thẩn thờ. Đêm qua sau khi trở về dịch xá bên cầu, vị Dịch thừa biết thân phận của ông nên đã đích thân mang rượu tới, bị ông khéo léo từ chối. Trong lúc trò chuyện đôi câu, ông vô tình biết được một tin tức từ miệng người nọ.
Sứ đoàn Tây Địch đã đến từ tháng trước, quy mô vô cùng rầm rộ. Dịch thừa còn thuận miệng nhắc đến việc trong đoàn ngoài sứ giả ra, còn có vị tiểu Vương tử của Tây Địch quốc. Vì đó là cốt nhục của Kim Hi đại trưởng công chúa năm xưa hòa thân lấy chồng xa, nên Dịch thừa lúc ấy có đặc biệt lưu tâm. Hắn nói với Khương Nghị rằng vị tiểu Vương tử nọ chừng tám chín tuổi, tóc đen xoăn tít, mắt xanh to tròn, trông rất khỏe mạnh và đáng yêu.
Dịch thừa chỉ là thuận miệng nói bâng quơ rồi cảm thán vài câu rồi rời đi vì có việc bận, để lại Khương Nghị một mình trải qua một đêm không sao chợp mắt. Trong bóng tối mịt mùng, ông dựa vào vài câu miêu tả rời rạc của Dịch thừa mà tưởng tượng ra dáng vẻ hài nhi của nàng.
Có một khoảnh khắc, trong lòng ông nảy sinh một nỗi thôi thúc mãnh liệt. Ông muốn quay lại tòa thành đã ruồng bỏ và lãng quên mình một cách triệt để kia, để tận mắt nhìn xem dáng vẻ đứa trẻ đó, xem liệu nó có giống như ông nghĩ hay không. Dù cho tóc xoăn mắt xanh, nhưng trên gương mặt ấy liệu có còn tìm thấy chút hình bóng của dung nhan mỹ lệ năm nào.
Tất nhiên, ý niệm đó chỉ thoáng qua như tia chớp. Mười sáu năm trước, kể từ ngày nàng rời xa biên ải, ông đã vĩnh viễn mất đi người nữ tử mình yêu thương nhất. Mười sáu năm sau, sao ông có thể làm ra hành động đường đột như thế? Làm vậy thì có ích gì cho nàng?
Sắc trời mỗi lúc một tối, hoàng hôn nhanh chóng buông xuống bốn bề. Cách trạm dịch tiếp theo vẫn còn mấy chục dặm đường. Khương Nghị nhanh chóng thu lại tâm trí, xua tan những tạp niệm trong đầu.
Vì đại thọ của Thái hoàng thái hậu, dạo gần đây trên đường có rất nhiều đoàn xe từ các quận tiến kinh dâng lễ vật và chúc thọ, ngoài ra còn có không ít sứ đoàn phiên bang đến từ Tây Vực như Tây Địch quốc, mỗi đoàn lên đến hàng trăm người. Do đó, các dịch xá ven đường thường xuyên quá tải vào ban đêm. Vận khí không tốt thì ngay cả đại sảnh cũng chật kín người nằm đất, hạng chức quan thấp bé lại đến muộn như ông thì khó lòng có chỗ trọ. Việc phải ngủ ngoài trời nơi hoang dã là chuyện thường tình.
Bảy tám người đi theo ông không chỉ vất vả đi đường mà còn phải chăm sóc ngựa, ai nấy đều đã mệt mỏi rã rời. Nếu có thể đến sớm thì phải cố gắng đến sớm, nói không chừng vận may mỉm cười, tối nay còn có được một tấm phản để gối đầu.
Khương Nghị quát lớn một tiếng, giục mọi người tăng tốc, chính ông cũng thúc ngựa lao đi. Tiếng gió rít gào bên tai, bỗng nhiên trong gió dường như xen lẫn tiếng gọi mơ hồ, phảng phất có người đang cưỡi ngựa đuổi theo từ phía sau.
Ông ngoảnh đầu nhìn lại. Một bóng người dọc theo quan lộ từ hướng kinh đô đang phi nước đại tới gần.
“Khương Mục giám lệnh xin dừng bước ——”
Tiếng gọi mỗi lúc một rõ hơn. Người nọ cưỡi một con khoái mã cực tốt, rất nhanh đã thấy rõ vóc dáng, dường như là một cung vệ. Khương Nghị hơi chần chừ rồi ghì cương ngựa.
Cung vệ nhanh chóng đuổi kịp, xoay người xuống ngựa, chạy đến trước mặt ông, lấy ra lệnh bài đại diện cho thân phận rồi hành lễ nói: “Khương Mục giám lệnh, Thái hoàng thái hậu biết ngài hôm nay rời đi, mệnh ngài quay lại vào thành, tối nay nghỉ lại tại Sùng Nghiệp nội dịch, ngày mai đi cũng chưa muộn.”
Khương Nghị kinh ngạc, suy nghĩ một chút rồi hỏi: “Thái hoàng thái hậu còn có ý chỉ nào khác không?”
Cung vệ lắc đầu ra hiệu là không. Lần vào kinh này Khương Nghị vốn không định vào thành, càng không mong cầu điều gì khác, chỉ muốn dùng cách này để bày tỏ lòng chúc mừng chân thành đối với đại thọ bảy mươi của cô mẫu mà thôi. Cô mẫu lại biết ông đến nhanh như vậy khiến ông có chút ngoài ý muốn. Mệnh lệnh này nghe qua cũng thật lạ lùng.
Nhưng bà đã có ý phái người đuổi theo phân phó như thế, chắc hẳn phải có lý do. Khương Nghị trầm ngâm một lát rồi nói với thuộc hạ: “Các ngươi cứ tiếp tục tiến bước, ở trạm dịch phía trước chờ ta, ta đi xem sao, xong việc sẽ quay lại hội hợp.”
Đám người vâng lệnh. Khương Nghị quay đầu ngựa, cùng cung vệ đi theo đường cũ trở về. Khi đến cổng Tây Vĩnh Lạc, trời đã tối hẳn, cửa thành lẽ ra đã đóng chặt nhưng lần này lại không gặp bất kỳ sự tra hỏi nào. Vệ binh cửa thành dường như biết rõ thân phận của vị cung vệ này, vừa nghe tiếng gọi cửa liền nhanh chóng mở cổng cho đi.
Đêm nay trời thanh gió mát, có lẽ vì gần đến đại thọ của Thái hoàng thái hậu nên không khí trong thành càng thêm phần vui tươi. Tuy trời đã tối nhưng đèn hoa hai bên đường rực rỡ như ban ngày, người qua kẻ lại không ngớt, phố xá sầm uất náo nhiệt chẳng khác gì buổi sớm.
Khương Nghị xuống ngựa, lặng lẽ dắt ngựa đi xuyên qua những con phố của cố đô, cuối cùng cũng đến được Sùng Nghiệp nội dịch. Dịch thừa không nhận ra ông nhưng chắc hẳn đã nhận được lệnh từ trước nên đang đứng chờ ngoài cửa. Vừa nghe ông tự báo danh tính, mắt hắn sáng lên, vội vàng khom người cung kính mời ông vào trong.
Khương Nghị đi theo Dịch thừa xuyên qua dịch xá, cuối cùng dừng lại trước một gian phòng nhỏ độc lập thanh tịnh ở hậu viện.
“Mời ngài vào trong.” Dịch thừa nói.
Khương Nghị nén nỗi nghi hoặc trong lòng, đưa tay đẩy cánh cửa đang khép hờ, cất bước đi vào. Còn chưa đi được mấy bước, đã nghe thấy trong phòng có tiếng bước chân dồn dập, một bóng nhỏ từ trong cửa lao ra, chạy thẳng về phía ông.
Đó là một bé trai.
“Ngài chính là Khương Nghị Khương đại tướng quân sao?” Cậu bé đứng trước mặt ông, dùng giọng điệu vui vẻ cao giọng hỏi.
Trong viện có treo đèn lồng, nhờ ánh đèn, Khương Nghị nhìn thấy rất rõ ràng. Một cậu bé chừng tám chín tuổi, tóc đen xoăn tít, mắt xanh to tròn, dáng người mập mạp khỏe mạnh, trông rất đáng yêu. Cậu bé ngước mặt, mở to đôi mắt nhìn chằm chằm vào ông, thần sắc lộ vẻ hiếu kỳ xen lẫn hưng phấn.
Khương Nghị cúi đầu nhìn đứa trẻ mang đậm nét huyết thống dị tộc nhưng lại có cảm giác như đã từng quen biết này, người ông khựng lại.
Cậu bé hỏi xong, thấy ông không trả lời cũng không có phản ứng gì, vẻ hưng phấn trên mặt dần tan biến. Cậu chần chừ một lát rồi nhỏ giọng nói: “Ta tên là A Thế Tất, mẫu thân còn đặt cho ta một cái tên khác là Hoài Vệ. Ta nghe sư phụ thường nhắc về ngài, nói ngài là chiến thần chuyển thế, là bậc đại anh hùng. Ta nghe nói ngài đến nên rất muốn được gặp ngài, liền đi cầu xin ngoại tổ mẫu đang ở cung Bồng Lai. Có phải ngài...”
Cậu bé lén nhìn ông rồi rụt rè hỏi: “Có phải ngài không thích ta không?” Ngữ khí lộ rõ vẻ lo lắng.
Bồ Châu đứng sau cánh cửa chứng kiến cảnh này, trong lòng đột nhiên thấu hiểu. Năm xưa con gái của Vệ Chiêu bá nước Vệ là Hứa Mục phu nhân, sau khi gả xa đến nước Hứa, lòng nàng vẫn luôn hướng về cố quốc, tận tâm tận lực bôn ba vì quê hương.
Hoài Vệ, Hoài Vệ. Nghĩ lại, trong mộng của Hứa Mục phu nhân chắc hẳn thường xuyên xuất hiện non sông và cố nhân của quê nhà. Kim Hi đại trưởng công chúa gả xa đến Tây Địch, phải chung chồng với những nữ tử khác, hẳn là tự ví mình như Hứa Mục phu nhân nên mới đặt tên cho con trai út là Hoài Vệ chăng?
Bồ Châu chưa từng gặp Kim Hi đại trưởng công chúa, cũng không biết bà là người như thế nào. Nhưng giờ khắc này, nhìn hai bóng hình một lớn một nhỏ đang đứng đối diện nhau trong viện, nghĩ đến vị đại trưởng công chúa của đế quốc chưa từng gặp mặt kia, lòng nàng bỗng thấy bùi ngùi vô hạn.
Khương Nghị rốt cuộc cũng định thần lại. Ông nhìn chăm chú vào cậu bé tên Hoài Vệ — con trai của nàng. Đôi mắt ông không rời, thân hình cao lớn chậm rãi ngồi xuống trước mặt đứa trẻ, nhìn thẳng vào mắt cậu, rồi đưa tay nhẹ nhàng xoa mái tóc xoăn mềm mại ấy.
“Không, ta rất thích cháu, Hoài Vệ.” Hốc mắt ông hơi nóng lên, ông khẽ cười, dùng giọng điệu ôn nhu nói.
“Thật sao?”
“Thật!” Khương Nghị khẳng định chắc nịch, gật đầu thật mạnh.
Vị tiểu Vương tử lại hưng phấn trở lại, cậu reo lên một tiếng rồi nhảy cẫng lên. Như muốn chia sẻ niềm vui sướng lúc này với người khác, cậu quay đầu gọi Bồ Châu: “Chị nhìn xem! Đại tướng quân thật sự đến rồi! Ngài ấy nói ngài ấy thích ta!”
Tâm trạng của Bồ Châu cũng bị lây nhiễm bởi niềm vui ấy. Nàng đón lấy ánh nhìn của Khương Nghị, mỉm cười gật đầu rồi mời ông vào nhà.
“Đại tướng quân, vốn dĩ cháu định tự mình đuổi theo ngài, nhưng bọn họ không cho, bắt cháu phải đợi ở đây! Cháu đã tức chết đi được! Cháu cứ tưởng ngài sẽ không đến cơ! Nếu bọn họ làm cháu không gặp được ngài, cháu định sẽ nhịn cơm ba ngày luôn!”
Hoài Vệ là đứa trẻ bộc trực, sự dè dặt ban đầu nhanh chóng tan biến. Cậu nắm lấy tay áo của Khương Nghị, miệng không ngừng than vãn.
Khương Nghị không nhịn được mà cười lớn. Đây là lần đầu tiên trong suốt mười mười sáu năm qua ông cười sảng khoái đến thế. Tiếng cười vang dội, ông một tay bế bổng đứa trẻ lên rồi sải bước đi vào trong phòng.
Bồ Châu nhường không gian cho họ, nàng lánh mặt trong phòng không ra ngoài, nhưng thỉnh thoảng vẫn nghe thấy tiếng cười nói truyền lại, chủ yếu là giọng của Hoài Vệ.
Thời gian từng khắc trôi qua. Đến cuối giờ Hợi, động tĩnh bên ngoài dần lắng xuống, không gian trở nên tĩnh lặng. A Cúc gõ cửa, ra hiệu rằng Khương Nghị sắp rời đi.
Bồ Châu đi ra ngoài, thấy Hoài Vệ đã ngủ say trên giường, trên người đắp tấm áo choàng của Khương Nghị.
Nàng tiễn Khương Nghị ra cửa. Ông nhìn đứa trẻ đang ngủ say, miệng vẫn còn chép chép như đang mơ thấy món ngon gì đó một lần cuối. Ra đến giữa sân, ông dừng bước, hướng về phía cung Bồng Lai ở phương Bắc mà quỳ xuống, trịnh trọng dập đầu một cái. Sau đó ông đứng dậy, bảo nàng dừng chân không cần tiễn nữa.
Bồ Châu nói: “Chúc ngài lên đường bình an.”
Ông khẽ gật đầu, tiếp tục rảo bước ra ngoài. Đi được vài bước, ông bỗng dừng lại, quay người, thấp giọng nhưng rành rọt từng chữ: “Đa tạ tiểu Thục nữ.”
Bồ Châu đứng nhìn theo bóng dáng cao lớn ấy hiên ngang rời đi, cho đến khi khuất hẳn trong màn đêm.
Hoài Vệ đang ngủ say được cung vệ bế lên xe ngựa đưa về cung Bồng Lai. Trong giấc mộng của cậu bé, sau này ngoài những món ăn ngon, có lẽ sẽ có thêm hình bóng của một vị anh hùng thật rõ nét.
Ngày hôm sau, thê tử của Quách Lãng là Nghiêm thị đi xe ngựa đến thăm Bồ Châu. Bất luận nội tình bên trong thế nào, trên danh nghĩa, chính nhờ bức sớ của Thái tử Thái phó Quách Lãng mà vụ án của tổ phụ nàng mới được lật lại và minh oan.
Bồ Châu hành lễ tạ ơn Nghiêm thị. Bà mỉm cười đỡ nàng dậy, nói vài lời khách sáo về tình giao hảo nửa đời người giữa phu quân mình và tổ phụ nàng. Sau khi hàn huyên, bà nhìn quanh một lượt rồi nói: “Nơi dịch quán này nhân viên hỗn tạp, ai cũng có thể ra vào, không nên ở lâu. Nhà cũ của Bồ gia tuy đã được trả lại, nhưng hôm trước ta có ghé qua xem, bên trong đổ nát hoang tàn, dù có sửa sang cũng phải mất nửa năm mới ở được. Huống hồ cháu lại thân gái dặm trường, ở một mình cũng không tiện. Ta xem cháu như cháu gái ruột, nếu cháu không chê, đợi sau khi Thánh thượng triệu kiến, ta sẽ đón cháu về phủ. Nhà ta tuy nhỏ nhưng phòng ốc vẫn đủ dùng, đã dọn dẹp xong xuôi cả rồi, chỉ đợi cháu đến thôi. Đây cũng là tâm ý của ta và Thái phó, ý cháu thế nào?”
Nhà cũ của Bồ gia nằm ở phường Quy Nhân phía Đông Bắc, sau khi Bồ gia gặp họa tám năm trước, phủ đệ đã bị Tượng Tác cục chiếm dụng. Kiếp trước sau khi vào kinh, Bồ Châu cũng được Nghiêm thị đón về Quách phủ ở, cho đến khi nàng trở thành Thái tử phi, gả vào Đông cung. Trong mắt người ngoài, việc nàng ở lại Quách gia là điều hợp tình hợp lý.
Bồ Châu không định thay đổi chuyện này, liền gật đầu đồng ý và một lần nữa nói lời cảm tạ. Nghiêm thị rất vui mừng, nắm lấy tay nàng trò chuyện vô cùng thân thiết.
Sau khi tiễn Nghiêm thị ra về, đến chạng vạng tối, một vị Cung sử tới truyền lời rằng Hoàng đế sẽ triệu kiến Bồ Châu vào ngày mai, lệnh cho nàng chuẩn bị vào cung.
Ba ngày sau khi đến kinh thành, Bồ Châu ngồi trên long xa đến hoàng cung. Hoàng đế tiếp kiến nàng tại điện Duyệt Quế.
Hiếu Xương Hoàng đế chừng hơn bốn mươi tuổi, gương mặt đoan chính, râu dài dưới cằm, uy nghi thiên tử khiến người ta không dám nhìn thẳng. Ngài khen ngợi công lao năm xưa của tổ phụ nàng, an ủi nàng vài câu, sau đó cung nhân tuyên đọc phong thưởng của Hoàng đế dành cho tôn nữ của Bồ gia: phong làm Đình chủ, được hưởng thực ấp một trăm hộ tại một đình, ban thêm năm trăm sấp lụa và một vạn tiền.
Đình chủ vốn là phong hiệu dành cho con gái của các Tự vương trong tông thất, đối với hậu duệ của đại thần như Bồ gia mà nói, đây là một ân sủng đặc biệt.
Bồ Châu bái tạ ơn trên. Sau khi diện kiến Hoàng đế, dưới sự dẫn dắt của Tống Trường Sinh – người đã đón nàng vào kinh – nàng lần lượt đi bái kiến Thượng Quan Hoàng hậu cùng các vị Quý phi, Hồ phi. Hoàng hậu và Quý phi đều tỏ ra ôn hòa, hiền hậu. Bồ Châu ứng đối lễ độ, nhận thêm một đống ban thưởng rồi mới trở về dịch xá.
Nghiêm thị phái người tới nhắn rằng ngày mai sẽ đến đón nàng về phủ.
Đêm đó, Bồ Châu đang cùng A Cúc thu xếp hành lý thì bỗng nhiên có một vị Cung sử khác tìm đến. Lần này người tới không phải từ chỗ Hoàng đế, mà là từ cung Bồng Lai.
Khương thị Thái hoàng thái hậu truyền lời, muốn nàng ngày mai nhập cung Bồng Lai kiến giá.
Bồ Châu nhớ rõ kiếp trước phải ba ngày sau khi gặp Hoàng đế, Khương thị mới triệu kiến nàng. Kiếp này, mọi chuyện đã diễn ra sớm hơn ba ngày.
Đề xuất Cổ Đại: Trót Lầm Trêu Ghẹo Vương Gia, Ta Đành Ôm Bụng Bầu Bỏ Trốn