Sau bữa tối, hai vợ chồng ra hiệu cho đám nha hoàn lui xuống, lúc này mới tiếp tục bàn về chuyện của cặp song sinh. Trúc Lan đầy vẻ lo âu: “Khương An trừ phi giả chết, bằng không khó lòng về nước. Hiện giờ nó đã ngồi vào vị trí đó, chắc chắn sẽ không dễ dàng rời đi.”
Chu Thư Nhân khẽ vuốt râu: “Chỉ cần không bị bại lộ, Hoàng thượng sẽ không để nó trở về, trừ phi thôn tính luôn quốc gia đó.”
Trúc Lan im lặng. Hoàng thượng nếu muốn thôn tính thì đã làm từ lâu rồi, hiện tại mà thu nạp thêm chỉ tổ gánh nặng. Thảo nguyên và vùng Đông Bắc vốn là hai cái hố không đáy ngốn tiền của, trong lúc lương thực thiếu thốn, triều đình chẳng còn sức lực đâu mà lo cho mấy tiểu quốc xung quanh.
Bà nhẩm tính tuổi tác của hai đứa cháu: “Chúng nó chẳng còn nhỏ nữa, theo lý thì đã đến tuổi định thân rồi. Giờ thì hay rồi, về không được, chẳng lẽ ở bên đó cứ mãi không thành thân sao?”
Nghĩ đến việc cháu ngoại phải thành thân nơi đất khách quê người, vì đại cuộc quốc gia mà phải cưới người mình không thích, bà cảm thấy ngột ngạt vô cùng.
Chu Thư Nhân nghe xong cũng thấy nghẹn lòng: “Hai cái thằng ranh con này.”
Trúc Lan thở dài: “Ngày mai thế nào đại nữ nhi của ông cũng tìm tôi mà khóc một trận cho xem.”
Quả đúng như lời Trúc Lan dự đoán, sáng hôm sau, cơm còn chưa kịp ăn, Tuyết Mai đã trở về. Đôi mắt nàng sưng húp, Trúc Lan ra hiệu cho Thanh Tuyết bưng thêm một bát hoành thánh lên: “Chắc là không có tâm trạng ăn cơm rồi, ngồi xuống ăn với ta một chút đi.”
Giọng Tuyết Mai khàn đặc, đêm qua nàng gần như không chợp mắt, cứ nghĩ đến hai đứa con trai là nước mắt lại rơi: “Vâng.”
Sau bữa sáng, Trúc Lan đợi người hầu dọn dẹp xong xuôi, chỉ để lại mỗi Thanh Tuyết bên cạnh mới lên tiếng: “Con cứ nghĩ hai đứa nhỏ đang đi sứ ở nước ngoài, liệu trong lòng có thấy dễ chịu hơn không?”
Tuyết Mai nghẹn ngào: “Chúng không giống Nhị ca. Nhị ca đi sứ không gặp nguy hiểm, còn chúng nó, chỉ cần một sơ suất nhỏ là mất mạng như chơi.”
Trúc Lan khuyên nhủ: “Ai bảo Nhị ca con đi sứ là không nguy hiểm? Chỗ nào mà chẳng có rủi ro.”
Tuyết Mai mím môi không đáp, nước mắt cứ thế lặng lẽ tuôn rơi. Nàng đau lòng quá, hai đứa con trai lớn của nàng vốn dĩ đang yên ổn kia mà.
Trúc Lan thốt lên: “Thôi đừng khóc nữa, con mà khóc là ta cũng khóc theo đấy.”
Nhìn con gái đau khổ, bà xót xa vô cùng, lại thêm lo lắng cho hai đứa cháu ngoại, trong lòng càng thêm ngổn ngang.
Tuyết Mai dùng khăn tay lau nước mắt: “Tính theo tuổi tác, chúng đều đã đến lúc phải thành gia lập thất rồi.”
Trúc Lan an ủi: “Hôm qua ta cũng đã bàn với cha con chuyện này rồi. Thôi, đừng lo nghĩ quá nữa.”
Thực tế, cặp song sinh đã mang lại không ít lợi ích cho Khương gia. Nếu không có sự sắp xếp của Thư Nhân, Khương Đốc và Mộc Phàm chưa chắc đã được đến những nơi tốt như vậy. Trong chuyện này, công lao của cặp song sinh là không nhỏ.
Tuyết Mai không dám khóc ở nhà, vì cha chồng và mẹ chồng vẫn chưa biết chuyện Khương Bình đã trở về. Nàng sợ bị mẹ chồng phát hiện nên chỉ biết tìm đến mẹ đẻ để trút bầu tâm sự.
Một lát sau, Lâm Hi bước vào: “Ngoại bà, con đã hẹn với Ngọc Văn biểu tỷ đi chơi rồi. Ơ, di mẫu, sao người lại khóc thế này?”
Mắt Tuyết Mai khô khốc, nụ cười có chút gượng gạo: “Ta nhớ hai biểu ca của con quá.”
Lâm Hi không biết an ủi thế nào, hai vị biểu ca đã rời nhà quá lâu, nàng chỉ biết nói bâng quơ: “Đợi khi họ trở về, di mẫu nhất định phải đánh cho họ một trận, xem họ còn dám làm người đau lòng nữa không.”
Tuyết Mai gật đầu: “Được, nghe lời Lâm Hi.”
Ngọc Văn đi tới cũng hỏi thăm vài câu, sau khi xác nhận đại cô cô không sao mới cùng Lâm Hi ra cửa.
Tuyết Mai sực nhớ ra điều gì đó: “Lạ thật, sao hôm nay Ngọc Văn lại chủ động ra ngoài thế nhỉ?”
Trúc Lan đáp: “Bởi vì cha nó tin tức linh thông.”
Tuyết Mai ngơ ngác: “Dạ??”
Tại Chương Châu, Ngọc Sương dẫn theo hai đứa nhỏ ngồi bên vệ đường hái rau dại. Trên cánh đồng, người dân đang bận rộn trồng dược liệu. Ngọc Sương hái được một giỏ đầy, cảm thấy hơi mệt.
Lưu Phong không yên tâm cho ba mẹ con nên bước lại gần: “Nàng mệt rồi sao?”
Ngọc Sương gật đầu: “Chàng có muốn nghỉ ngơi một lát không?”
Lưu Phong cũng thấm mệt. Hôm nay hắn mặc bộ đồ vải thô, tự mình xuống đồng trồng dược liệu một hồi lâu. Hắn chẳng nề hà đất cát, ngồi xuống cạnh thê tử: “Năm nay các thôn đều khai khẩn thêm nhiều đất hoang, ngày tháng sau này chắc chắn sẽ tốt dần lên.”
Ngọc Sương nhìn đám trẻ con trên đồng: “Trước đây hiếm khi thấy chúng có quần áo mới, giờ thì không ít đứa đã được thêm áo mới rồi.”
Lưu Phong mỉm cười: “Cuộc sống dư dả hơn, huyện thành cũng không còn vẻ ảm đạm như trước nữa.”
Dân chúng có tiền trong tay, trong huyện mọc lên không ít cửa tiệm, các sạp đồ ăn vặt cũng đông đúc hẳn lên.
Lưu Phong mới trồng được một lát, người dân đã không cho hắn làm tiếp. Không phải họ chê hắn làm không khéo, mà là không muốn hắn vất vả. Nhờ việc trồng dược liệu mà dân chúng có thêm thu nhập, Lưu Phong vì thế rất được lòng dân.
Kết quả là trên xe ngựa trở về thành của Ngọc Sương, ngoài đống rau dại còn có thêm hai con cá lớn do người dân đặc biệt đánh bắt tặng cho.
Ngọc Sương bật cười: “Chỗ rau dại này chắc phải ăn được lâu lắm đây.”
Lưu Phong cũng cười theo: “Ăn không hết thì phơi khô để mùa đông dùng dần.”
Ngọc Sương nói: “Được, đến lúc đó gửi một ít về kinh thành, đây đều là tấm lòng yêu mến của dân chúng dành cho chàng.”
Lưu Phong có chút ngượng ngùng: “Đó đều là việc ta nên làm.”
Ngọc Sương đầy vẻ tự hào, nàng đưa tay nắm lấy bàn tay đã thô ráp đi nhiều của phu quân: “Chàng là niềm kiêu hãnh của thiếp.”
Lưu Phong ôm lấy thê tử. Hắn hiểu rõ nếu không có nhạc gia, con đường làm quan thanh liêm của hắn sẽ không hề dễ dàng. Mọi chuyện suôn sẻ như vậy đều nhờ vào nhạc gia, và cũng nhờ có sự ủng hộ, bầu bạn của thê tử.
Tại một trà lâu ở kinh thành, Lâm Hi đã uống hết hai chén trà: “Biểu tỷ, có phải tỷ nhầm chỗ rồi không?”
“Không thể nào, cha tỷ không bao giờ nhầm đâu.”
Cố Thăng đối với cha nàng vốn không có phòng bị, cha nàng chỉ hỏi bâng quơ vài câu, Cố Thăng đã khai ra tên trà lâu này rồi!
Lâm Hi chợt kéo tay áo biểu tỷ: “Người vừa xuống xe ngựa có phải là họ không?”
Ngọc Văn nhìn qua, đúng là anh em nhà họ Cố. Hai người tiến vào trà lâu, một lát sau lại có một chiếc xe ngựa khác đi tới. Một phu nhân bước xuống, theo sau là một cô nương. Vị cô nương này tuổi tác có vẻ đã lớn, tầm tuổi này mà chưa thành thân chắc hẳn là có ẩn tình gì đó.
Ngọc Văn gọi tiểu nhị lại hỏi han vài câu, lát sau nha hoàn đi tới báo: “Cố công tử đang ngồi uống trà ở tầng dưới.”
Lâm Hi mân mê cán roi: “Ca ca của hắn đang đi xem mắt sao?”
“Chắc chắn rồi, bằng không sẽ không tách ra đi riêng như vậy.”
Lâm Hi tặc lưỡi: “Đứa trẻ không cha không mẹ, chuyện hôn sự cũng phải tự mình lo liệu.”
Chưa đầy một khắc sau, Ngọc Văn thấy vị phu nhân và cô nương lúc nãy rời đi. Ngay sau đó, từ trong bao sương của Cố Thăng bước ra một bà lão và một phụ nữ trung niên. Ngọc Văn thấy hai anh em họ Cố đích thân tiễn người lên xe ngựa.
Ngọc Văn mỉm cười: “Cũng rất hiểu lễ nghĩa, còn tự mình tìm cả người làm chứng và bà mai.”
Lâm Hi kéo biểu tỷ đứng dậy: “Không đi nhanh là họ cũng đi mất đấy.”
Ngọc Văn vẫn ngồi yên: “Họ sẽ quay lại thôi, chưa đi ngay đâu.”
Thấy hai anh em lại trở vào trà lâu, Lâm Hi thốt lên một tiếng, không nhịn được mà huých vai biểu tỷ: “Tỷ cũng đâu có gặp Cố Thăng mấy lần, sao mà hiểu hắn thế!”
Đề xuất Ngược Tâm: Kỳ Đại Khoa Kết Thúc, Cũng Là Lúc Nữ Nhi Ta Lìa Đời.